Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Thiep_910.jpg Ngay_moi.swf Hue_thuong.mp3 Xuan_da_ve.swf Image002_Curi.jpg Image002.jpg Image001.jpg

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    Chào mừng quý vị đến với website Vật lý của Ths. Lương Viết Mạnh

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Tài liệu tập huấn phổ thông dân tộc nội trú

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lương Viết Mạnh (trang riêng)
    Ngày gửi: 21h:54' 20-08-2013
    Dung lượng: 39.4 MB
    Số lượt tải: 4
    Số lượt thích: 0 người

    B¸C Hå
    NH¢N C¸CH CñA THêI §¹I
    Vµ DÊU ÊN GI¸O DôC
    Tõ NG­êi bµ, ng­êi mÑ, ng­êi chÞ

    §Æng Quèc B¶o
    (Tæng thuËt t­ liÖu )
    Câu đối viếng bác ngày người đi xa (3/9/1969)
    1/ Chí khí tráng sơn hà - Kim cổ anh hùng duy hữu nhất
    Minh tinh quang vũ trụ - á Âu hào kiệt thị vô song.

    ý chí quyện vào sông núi
    Anh hùng xưa nay hiếm có ai như người
    Ngôi sao sáng này bừng trong vũ trụ
    Hào kiệt từ á sang Âu khó người sánh nổi.

    (KD, có tư liệu cho biết đây là đôi câu đối viếng Bác
    của một lãnh tụ nước bạn)

    2/ Thế giới đạo tiến trình - âu á anh hùng vô hậu bối
    vĩ nhân tân xã hội - Mã liệt chi hậu hữu tiên sinh.

    Lãnh đạo thế giới này đi lên
    Anh hùng âu á ít có ai sánh được người
    Vĩ nhân của xã hội mới
    Sau Cácmác, Lênin chỉ có tiên sinh!

    (Mã: Mã Khắc Tư - CácMác; Liệt: Liệt Ninh - Lênin)
    (KD, lưu truyền tại miền Nam vùng tạm chiếm)
    Hồ chí minh - anh hùng giảI phòng dân tộc -
    danh nhân văn hoá thế giới
    UNESCO nói về Hồ Chí Minh
    Ghi nhận rằng năm 1990 sẽ được đánh dấu bằng lễ kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam và là một nhà văn hoá lớn...
    "Hồ Chí Minh là biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hoà bình độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
    ...là kết tinh truyền thống văn hoá hàng ngàn năm của nhân dân Việt Nam... Những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của dân tộc mình và tiêu biểu cho việc hiểu biết lẫn nhau của các dân tộc khác.

    hồ chí minh người kế tục và làm rạng rỡ chủ nghĩa mác lê nin
    "Nói về Lênin, tôi muốn nói đến một điều ghi trong văn bản của Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô ngày 4/1/1923 đề cập đến vấn đề bầu Tổng Bí thư thay thế Lênin vì lúc này Lênin ốm nặng. Người thấy không đảm nhiệm công việc phục vụ Đảng được nữa, Người có một đề nghị. Tất nhiên Người không ghi cụ thể tên ai sẽ đảm nhiệm chức Tổng bí thư và chỉ nêu tiêu chuẩn cho một Tổng bí thư như sau:
    1) Là người phải có tính kiên trì bền bỉ
    2) Phải luôn trong sáng và ngay thẳng
    3) Phải là người khiêm tốn, dịu dàng, mềm mỏng
    4) Phải có lòng nhân ái biết quan tâm đến đồng chí của mình
    5) Phải là người có tính kiên định.
    Năm tiêu chuẩn đạo đức mà Lênin đặt ra cho Tổng bí thư của Đảng Bôn sê vích lúc bấy giờ thực chất là đạo đức cần lao mà theo tôi nó thể hiện rất đầy đủ ở con người Hồ Chí Minh".
    (Sípphorôn Vichivosaram - Nghị sĩ Thái Lan)

    Hồ Chí minh: vị thánh của cách mạng
    "Chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà Hồ Chí Minh, con người xuất sắc nhất trong tất cả chúng ta. Trong cuộc đời hoạt động chính trị của mình, tôi đã biết rất nhiều người nhưng không có người nào gây được ở tôi một ấn tượng đặc biệt như ông Hồ Chí Minh. Những người có đầu óc tín ngưỡng thường hay nói tới các vị thánh. đúng vậy với cách sống và uy tín của ông đối với đồng bào trong nước, Hồ Chí Minh đúng là có thể so sánh với các "vị thánh" đó, một vị thánh của cách mạng".
    (Nikita Khrútxốp - Tổng Bí thư Đảng cộng sản Liên Xô - Người chống lại Stalin)
    "Cụ Hồ đã trở thành một vị thánh"
    (Malếch Khalin nhà báo Ai Cập)
    "Trong những người cộng sản trên thế giới, cụ Hồ là một thánh nhân sau Lênin"
    (Nhà báo Pháp Jean Lacouture)


    Nguyễn Bỉnh Khiêm tiên tri về
    đất Nam Đàn sinh thánh
    Lời sấm 52
    1/ Đất Nam Đàn sinh thánh:
    " Đụn sơn phân giải
    Bò đái thất thanh
    Nam Đàn sinh thánh".
    ( Bao giờ Bò đái thất thanh,
    Nam Đàn sinh thánh rành rành chẳng sai )
    Hồ Chí Minh:
    người đi thức tỉnh các tâm hồn
    Hồ Chí Minh "Cụ không chỉ là một nhà chỉ huy, mà đúng ra là một con người đi thức tỉnh các tâm hồn".
    (Gioóc giơ _ Môngtarông - Linh mục người ý)

    SM : Quản lý tâm hồn
    Soul Management
    a/ Quản lý, khêu gợi lương tâm.
    b/ Thức tỉnh lương tri.
    c/ Phát triển lưong năng
    Cụ Hồ đời đời có cả thiên hạ
    ý kiến nhà văn Anh
    "Cụ Hồ ra đi chỉ với một đôi dép cũ và một tấm áo thô, nhưng đời đời cụ có cả thiên hạ. Còn "con người kia" tưởng đã chiếm đoạt cả thiên hạ và từng muốn chiếm đoạt nốt cái mặt trời là của chung mọi nhà, thì đến bây giờ lại tự mất hết rồi. Cụ Hồ ra đi ngót mười năm nay nhưng hàng ngày vẫn sống giữa nhân dân. Còn "con người kia" mới chỉ qua đời mấy hôm mà kỳ thật đã vắng lặng ở trong lòng mọi người từ hàng chục năm nay".

    Nhà báo Anh - Tư liệu dẫn từ Đào Phan "Suy tưởng trước Ba Đình". Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin H.1998
    Bài thơ về hoa Mai của Hồ Chí Minh

    Bài thơ "Thướng Sơn"

    "Lục nguyệt nhị thập tứ
    Thượng đáo thử Sơn lai
    Cử đầu hồng nhật cận
    Đối ngạn nhất chi Mai"

    Ngày 24 tháng sáu
    Lên ngọn núi này chơI
    Ngẩng đầu mặt trời đỏ
    Bên suối một nhành Mai
    (Tố Hữu dịch)
    Lời bình bài thơ Thướng Sơn của GS Phan Ngọc

    Hai câu đầu nôm na để dẫn tới hai câu sau bất tử.
    Một tứ thơ cách mạng hoà với một tứ thơ Phật giáo.
    "Ngạn" là cáI bờ suối cụ thể, nhưng cũng là cáI bờ bên kia, cáI bờ đạt đến sự giác ngộ.
    "Mai" là cây Mại cụ thể nhưng cũng biểu thị cho con người thoát khỏi kiếp luân hồi
    Cả hai lý tưởng đều ở ngay trước mặt
    Tứ thơ hào hùng siêu thoát đến thế là cùng
    Hồ Chí Minh là thế !
    Ai viết nổi hai câu thơ vừa muôn đời vừa mới mẻ
    Vừa thanh thản vừa khí phách lại thấm đượm tình người đến thế
    Phải chăng chỉ có Hồ Chí Minh
    Nguồn: Suy nghĩ mới về Nhật ký trong tù
    Viện văn học NXB GD 1997 trang 630

    "Chí lớn qua những bài thơ
    thời niên thiếu"
    Con du?ng
    Núi cõng con đường mòn
    Cha thì cõng theo con
    Núi nằm ì một chỗ
    Cha đi cúi lom khom
    Đường bám lì lưng núi
    Con tập chạy lon ton
    Con siêng hơn hòn núi
    Con đường lười hơn con
    (Nguyễn Sinh Cung 1895)
    Trên đường thiên lý và hai bài thơ lúc 5 tuổi (1895)
    Bi?n
    Biển là ao lớn
    Thuyền là con bò
    Bò ăn no gió
    Lội trên mặt nước
    Em nhìn thấy trước
    Anh trông thấy sau
    Ta lớn mau mau
    Vượt qua ao lớn
    Nguyễn Sinh Cung (1895)

    Hổ phụ sinh hổ tử

    ". Hoàng Cao KhảI chống can đI ra. Đám trẻ từ ngoài xa đã ùa chạy. KhảI dụ dỗ: "Các cháu đừng sợ, lại đây ông thưởng kẹo. Cháu nào lúc nãy chê thơ các quan nếu làm được thơ hay ông sẽ thưởng nhiều thứ đẹp lắm.
    Đám trẻ làng dần dần chạy theo Cung đứng xúm xít lối vào sân. Cung giao hẹn với Hòang Cao Khải: ông phảI hứa không đánh cháu nếu thơ cháu không vừa ý ông.
    ồ ! Đời nào ông lại đánh mắng cháu, dù cho cháu có nói điều chi dại dột.
    Cung mắt đăm chiêu nhìn thẳng vào Hoàng Cao KhảI rồi đọc:
    Kìa ba ông lão bé con con
    Biết có tình gì với nước non
    Hoàng Cao Khải gật đầu đắc ý. Đám quan khách cũng gật gù theo Khải và hướng sự chú ý về phía Cung, tỏ vẻ khâm phục.
    Cung mắt hướng tới ba pho tượng và đọc tiếp
    Trương mắt làm chi ngồi mãI đó
    Hỏi xem non nước mất hay còn
    Hoàng Cao Khải căng tròn cả hai mắt nhìn Cung giọng run lên:
    "Thằng bé này con ai? Con nhà ai?"
    Có tiếng thưa:
    - Nó là con Phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc ở bên Nghệ An ạ
    Hoàng Cao Khải cầm cái can đi không vững trở vào nhà.
    Y nói lẩm bẩm: Hổ phụ sinh hổ tử
    (Trích từ Búp sen xanh của nhà văn Sơn Tùng)

    Bản lý lịch của nguyễn ái quốc
    khi tham gia đại hội quốc tế cộng sản lần thứ 7 - 1935
    Bí danh: Lin

    Quê quán: Đông Dương

    Thành phần gia đình: Nhà nho

    Học vấn: Tự học


    "Xa nhà đã mấy mươI niên
    Đêm qua nghe tiếng mẹ hiền ru con"
    Mùa Thu năm 1928, từ châu Âu Bác về Thái Lan với cái tên mới là Thầu Chín ra báo Thân ái để tuyên truyền và tổ chức Việt kiều ở Thái Lan. Một buổi chiều đi công tác về lỡ đường, Bác và đồng chí Trần Lam ghé vào nhà một Việt kiều làm thợ mộc xin ngủ qua đêm. Anh chị thợ mộc rất vui vẻ được đón khách đồng hương.

    Tối hôm đó, ăn cơm xong, sau câu chuyện thăm hỏi, Bác và đồng chí Trần Lam xin đi ngủ để mai có sức lên đường sớm. Hai Bác cháu đặt lưng xuống giường được một lúc thì căn nhà gỗ kẽo kẹt vang lên tiếng chị thợ mộc đưa nôi hát ru con. Giọng chị ngâm Kiều rất hay. Hai Bác cháu lặng nghe mê mải, rồi trằn trọc suốt đêm không tài nào chớp mắt được.
    Sáng hôm sau, Bác cháu cám ơn anh chị thợ mộc rồi tiếp tục cuộc hành trình.
    Thấy Bác có vẻ mệt nhọc, đồng chí Trần Lam hỏi: "Đêm qua Bác không ngủ, sáng nay đi đường hình như Bác không được khoẻ?"
    Giọng âu yếm, Bác nói:
    "Không sao. Mình làm cách mạng say sưa nên quên hết chuyện nhà. Đêm qua nghe chị thợ mộc ngâm Kiều ru con làm cho mình nhớ quá. Ngày xưa ở Huế mẹ mình cũng hay ngâm Kiều ru con như chị thợ mộc!"
    Nói đến đó Bác đổi giọng đọc lại câu thơ vừa xuất hiện trong tâm trí.
    "Xa nhà trót mấy mươi niên
    Đêm qua (mới) nghe tiếng mẹ hiền ru con!"
    Nói đến đó giọng Bác trầm xuống. Bác không muốn đồng chí Trần Lam đọc được nỗi nhớ thương ngậm ngùi trong lòng Bác. Bác đổi giọng nói băng qua chuyện công tác.
    *
    * *
    Khoảng tháng 6 năm 1948, một đêm nọ ở Việt Bắc, Bác ngồi đánh máy "Lời kêu gọi thi đua yêu nước", bỗng nhiên dưới xóm người dân tộc vẳng lên một tiếng khóc trẻ con "oa! oa!", tiếng đánh máy chữ lóc cóc giòn giã quen thuộc trong phòng làm việc của Bác tự nhiên trở nên rời rạc rồi im bặt. Bác gọi đồng chí bảo vệ lên nhà và nhờ:

    "Cháu đi tìm dỗ cho con nhà ai đó nín đi. Ngày xưa ở Huế, mẹ chết, em Bác đau, khát sữa cũng khóc như thế đó!"
    Đồng chí bảo vệ cảm động quá đốt đuốc xuống xóm dân thực hiện lời yêu cầu của Bác ngay. Nhưng đến lúc đứa bé nín hẳn, Bác vẫn ngồi trầm ngâm hút thuốc một lúc rồi Bác mới làm việc lại được.

    Sau này có lần Bác nói: "Miền Nam trong trái tim tôi" phải chăng lúc ấy mảnh đất Huế có con đường Đông Ba, khu chợ xép đã hiện ra trong tâm trí Bác rõ nhất?
    (Trích từ "Đi tìm dấu tích thời niên thiếu của Bác Hồ ở Huế".
    NXB Văn học tr 86 - 88)

    "Tiếng khóc giữa kinh thành"
    Ngày nối ngày. Năm Tý sắp hết. Bệnh bà cử Sắc càng nặng thêm. Cung mong cha về mỏi cả mắt. Cung cũng ước mong chú phó Tràng đi làm mộc tận Nam Kỳ về lúc này khác nào trèo đèo bíu được cây bên dốc. Một ngày mấy lần Cung bế em sang xin bú chực bác hàng cơm hến, chị ba cháo chè, bà cai lính khố vàng.

    Nhưng Cung không dám phiền nhiều vì các bà còn bận việc làm ăn. Mỗi lần Cung bế em đến, các bà phải ngưng công việc, ngồi lại cho bú. Có lần Cung khóc oà lên vì bé Nhuận vừa ngậm vú bà Cai Vàng thì bị đứa con bà, gần đầy năm bò xộc đến, hai tay bấu vào má bé Nhuận lôi trở ra không cho bú.
    Bà đánh nó một cái đét, nó vừa khóc vừa lăn vào cắn chân bé Nhuận. Từ bữa đó, Cung ít bế em đi xin bú chực. Cung bắt chước bà ngoại, súc miệng sạch sẽ nhá cơm cho em. Cung cũng vừa xoa đầu vừa nựng dỗ nhứ nhứ tờ giấy màu, hay bông hoa râm bụt trước mắt em để nó chịu ăn.
    Một hôm vừa chập tối bà cử nằm mê mê tỉnh tỉnh nghe tiếng Cung khóc dưới bếp. Bà mở choàng mắt gọi:
    Cung ơi! Cung.ơ.i! Tại sao con.kh.óc?
    Cung từ dưới bếp chạy lên ôm choàng lấy mẹ:
    Mẹ.m.ẹ ơi! Con.con có lỗi.
    Có việc chi thế con?

    Con. sắc thuốc cho mẹ. Con ngồi tựa vào gốc cột ngủ quên, cháy mất cả bã thuốc! Hu.u. hu.u! - Cung khóc to, không kìm nổi nữa. Bà cử cũng khóc nhưng vẫn dỗ con giọng đuối hơi, đứt quãng:
    Đừng. con. đừng. kh.óc. Em. nó. thức. giấc. Lỡ. cháy. rồi. thì sẽ sắc. chén. khác. Vì. mẹ. ốm. quá. lâu. con. phải. đói. ăn. đói. ngủ. Mẹ. mẹ biết công. của. con. chăm. mẹ, nuôi. em. to. lắm. Con. có hiếu. Con không. có lỗi.
    Cung nằm xuống cạnh mẹ, nuốt nước mắt, nói thỏ thẻ:
    Cháy siêu thuốc, con lo lắm mẹ ạ.
    Mẹ. đã nói cháy rồi thì thôi, m.à.
    Con lo cái điều như bà ngoại nói với dì An hồi năm nọ.
    Bà nói sao?
    Hồi đó ông ngoại ốm nặng. Dì An sắc thuốc cho ông, bà dặn đừng để cạn mà thuốc mất hiệu nghiệm. Bà còn nói khẽ với dì chớ lơ đãng bị cháy thuốc thì "gở" đó. Giờ đến lượt con để cháy thuốc của mẹ. con sợ. sợ. lắm. mẹ ạ.
    Bà cử thở dài muốn ôm lấy con mà không nhắc nổi cánh tay lên. Bà an ủi:
    Sắc thuốc bị cạn, bị cháy thì hỏng thuốc, chỉ có vậy thôi. Con đừng. nghĩ lan man. không ích chi. Còn bà ngoại nói sự "gở" thuốc cháy, hay nấu cơm khê là để. cẩn thận kẻo. phí của mà lại hỏng việc con ạ.
    Đêm ấy Cung nằm bên cạnh mẹ. Cung cứ thấy thấp thỏm, bồn chồn đến khó chịu.
    Cung cũng thấy mẹ trằn trọc, khó thở. Cung lại cầm chặt bàn tay mẹ.
    Mẹ ơi! Sao cha đi lâu quá. Còn có hai hôm nữa đã hăm ba tháng chạp, ôngTáo về trời rồi. Nhiều nhà đã sắm hàng Tết. Ngoài phố, các cửa tiệm đã trưng bày nhiều thứ đẹp lắm, mẹ ạ.
    Mẹ cũng sốt ruột lắm. Cha con có hẹn sẽ về trong tháng chạp này là cùng. Nhưng, cha con cũng dặn mẹ là ghé về quê thăm bà ngoại, dì An, chị Thanh của con, có thể giáp Tết mới về với mẹ con ta. Trừ khi ốm yếu dọc đường cha con đành phải về trễ qua Tết.
    Bà thở hắt ra:
    Mẹ . lo. anh. con. đi. đường. xa. gân. cốt chưa cứng. cáp chi. Không khéo. đi. hầu cha. hay. cha lại. hầu con!
    Bóng đen của cái đêm này, cả hai mẹ con bà cử đều thấy dày đặc và tối nặng một cách ghê ghê, sờ sợ! Tiếng gió hú ngoài cửa thành! Tiếng gió hú trên nóc nhà! Tiếng gió hú vào khe cửa! Tiếng gió hú khắp cả kinh thành!.

    Cung lại níu cánh tay mẹ vào ngực mình. Cung cố nhắm mắt để dễ ngủ, trái lại bao nhiêu đốm màu, đủ thứ màu nhỏ li ti nhiễu loạn trước mặt càng thấy nặng đầu.
    Bà cử cố trò chuyện với con được bấy nhiêu điều như đã vét cạn sức sống! Bà thiếp vào cơn mê. Cung đưa tay rất khẽ qua người mẹ, dẹm chặt các mảnh đắp cho em Nhuận. Bé Nhuận ngủ ngon. Con mèo nằm vào tấm chiếu dưới chân Cung từ lúc nào. Cung đưa chân đẩy nhẹ con mèo vào sát với chân mình cho nó ngủ được ấm. Con mèo tỏ vẻ nũng nịu, cà cà cái đầu lòng mượt như nhung vào chân Cung.
    Cung lâng lâng đi vào giấc ngủ. Một giấc mơ mở ra ngắn ngủi: Cung ngồi học bài bên mẹ. Mẹ Cung đang dệt lụa. cái khung cửi đặt trên một dải lụa đào trải rộng phập phồng.
    Mẹ vừa dệt vừa giải nghĩa những chữ khó cho Cung. Gương mặt mẹ hồng hào hoà với sắc lụa đào. Đầu mẹ không vấn khăn mà thả tóc chảy qua lưng đổ xoà xuống dải lụa đào, màu tóc mẹ như làn nước thăm thẳm xanh.

    Mẹ đang nói với Cung việc làm cỗ đón cha và anh cả về mời bạn bè đến dự đông vui như Tết. Bỗng tấm lụa đào bay lên nâng cả mẹ cả khung cửi lên theo. Cung nhảy lên với lấy dải lụa kéo trở lại mà không kịp. Mẹ nhìn Cung muốn ra khỏi lụa mà bay trở xuống với Cung nhưng cao quá! Những áng mây ngũ sắc vần vũ xung quanh đưa mẹ đi xa dần xa dần. Cung vẫn cầm sách trong tay gọi mẹ. gọi cha.

    Người khắp kinh thành đang nô nức đi sắm Tết. Nhà nhà đang vui náo nức đón Tết Tân Sửu, cái Tết đầu tiên của thế kỷ hai mươi. Nhưng! Nhưng dưới mái nhà nho nhỏ như hai cánh chim bị thương xoà ra ở một góc đường Đông Ba của thành Nội Huế nhoé lên yếu ớt tiếng khóc trẻ thơ mất mẹ! Tiếng khóc lay lắt như ngọn đèn trước gió trong ngôi nhà mà đã bao năm tháng vang ngân tiếng giảng sách sang sảng như chuông thức tỉnh lòng người!

    Nguyễn Sinh Cung thấy đất trời sụp đổ và đổ theo xuống ôm lấy thi hài mẹ! Bé Nguyễn Sinh Nhuận chưa biết gì, khóc đòi mẹ vì đang khát sữa!
    Tiếng khóc của Cung da diết như một lời kêu gọi - Mẹ ạ! Mẹ ơi! Mẹ .ch. ết. cha chưa về. chúng con sẽ sống sao đây!!!
    Hàng trăm tiếng khóc nấc lên nhập vào tiếng khóc của anh em Nguyễn Sinh Cung. Đứng bên Cung đã đủ mặt các bạn tuổi thơ: Công Tôn Nữ Huệ Minh, Diệp Văn Kỳ, Tôn Thất Tuấn, Lê Thị Hạnh, Hồ Quang với nhóm bạn đại lộ Đông Ba.
    Các bà, các ông quanh xóm phố, ngoài cửa Thành trong Nội. nghe tin vợ thầy cử Sắc - Hoàng Thị Loan từ trần liền bỏ mọi việc chạy đến. Ngôi nhà không chứa hết tiếng khóc, tiếng nói thảm thiết:
    Số phận cay nghiệt. cay nghiệt quá chừng!
    Mét nhµ bÒ thÕ, cã ®«ng ®ñ ng­êi giµ, ng­êi trÎ mµ l©m ph¶i c¶nh ng­êi th©n qua ®êi, cßn "tang gia bèi rèi". Huèng chi nhµ nµy: chØ cã hai anh em, mét ®øa lªn m­êi, mét ®øa ch­a ®Çy tuæi, mÑ chÕt!

    ¤! ¤i! … xao x¸c… nh­… gµ… con… mÊt… mÑ!

    ¤i! Trêi ®Êt! … TrÎ con mäi nhµ ®ang vßi cha mÑ may ¸o ®Ñp mÆc TÕt. ë ®©y… cËu Cung, con thÇy NguyÔn Sinh S¾c mÆc ¸o chñ tang ®i ch«n mÑ!
    (TrÝch tõ "Bóp sen vµng" tr 269 - 274)

    "Làm phó mộc cho cha"
    Được người dìu về đến nhà, ông Sắc đứng giữa sân như người chết đứng. Ông vẫn vịn vào cái ô làm cọc tựa. Cậu Cung chạy ùa hai tay ôm ngang người cha.
    Cha. aa!. Cha.ơi! Mẹ. mẹ. chết. rồi!
    Ông thả ô. Cái ô đen thả dài ra sân loã xoã như conchim bay bị đạn rơi xuống. Ông ôm lấy con - đứa con bé bỏng đã phải gánh vác cả một gia đình sụp đổ lúc cha vắng nhà!
    Con. ôi! Cha. cha đã lỗi hẹn với mẹ con! Cha. chịu ơn con lắm!
    Ông cầm tay con bước vào nhà, gục đầu xuống bàn thờ vợ! Cả bàn thờ rung lên. Ngọn đèn lay lắt. Khói hương vật vờ.
    Nguyễn Sinh Khiêm ngồi dưới chân giường thờ mẹ, gục đầu như một con chim non rũ cánh! Bé Nhuận ốm, da bọc xương nằm thở thoi thóp trong tầm mền cũ.

    Học trò và bà con quanh xóm nghe tin cha con thầy cử Sắc về, lần lượt đến chia buồn. Ông phải nén nỗi đau mất mát khủng khiếp, nhấc mình ra khỏi bàn thờ nhìn mọi người đang ở bên ông. Ông như một cây khô, một con sông cạn, một người không hồn! Hai tay ông xá lễ, mắt nặng ơn nghĩa cao cả mọi người. Lời lẽ lúc này ông cảm thấy vô nghĩa.
    Trời chiều. Dáng núi xanh xa, chống mái trời chì trĩu nặng. Dòng sông Hương gấp gấp như từng khúc ruột quặn đau quằn quại!

    Ông Nguyễn Sinh Sắc tay vịn lấy vai người con trai thứ bước từng bước thang lên dốc bãi tha ma Nam Giao. Khiêm cùng bước theo cha. Gió là là nghĩa địa. Ngọn cỏ rùng rình lướt lả ngang chân. Cung thấy cha bước xiêu xiêu không vững, cầm lấy tay cha dắt đến bên mộ.
    Th­a cha, mÑ con n»m ®©y!
    ¤ng cö S¾c ng· khuþu xuèng, hai tay dang réng «m lÊy ng«i mé vî! NguyÔn Sinh Khiªm ngåi sµ xuèng bªn cha! M­êi ngãn tay «ng bÊu vµo ®Êt nh­ ®Þnh b­ng c¶ ng«i mé dËy! Toµn th©n «ng rung lªn! Gi÷a kh«ng gian lÆng ng¾t bËt lªn tiÕng kªu to: Lo… an!…
    Ng«i mé vÉn lÇm l× bÊt ®éng. Cung ®au ®ín thÊy cha gôc ®Çu xuèng mé mÑ, kh¨n x« tung loµ xoµ trªn må! Mét c¬n giã thèc, tãc «ng rung rinh lªn líp cá ãng vµng!
    Cung th¾p h­¬ng c¾m lªn mé mÑ vµ mÊy ng«i mé kÒ bªn. Khãi h­¬ng bµi vÊn vÝt quanh «ng vµ Êm ¸p mé phÇn. Cung nhÆt kh¨n lªn vµ ®ì cha ®øng dËy
    Khiêm, Cung chạy đến bên cha. Ngôi mộ phập phồng hương khói trước ba trái tim nhức nhối đập dồn.
    Ông cử Sắc đi tạ ơn chưa hết được những người hảo tâm trong công việc chôn cất bà cử và đùm bọc hai con ông gặp cảnh bơ vơ khi tối lửa tắt đèn thì một nỗi đau đớn nữa lại đến với cha con ông: bé Nguyễn Sinh Nhuận đã chết!
    Giữa đêm khuya, ông lục những vuông vải do bà cử dệt còn dở dang để liệm con trai út.
    Cung nghẹn ngào:
    Thưa cha. Mặc cho em bộ quần áo mới của Hoàng phi Thành Thái cho hôm Tết, cha ạ.
    Ông Sắc dặn các con: "Cha con ta không được quên cái ơn này. Lần ơn này to lắm. Ai đã đến với cha con ta lúc này thì phải nhớ đời. Ngày xưa Hàn Tín lúc còn hàn vi đi câu cá, đói bụng được một bà lão giặt vải bên sông đem cho bát cơm. Khi đã làm đến tể tướng, Hàn Tín còn nhớ nghĩa cũ, đem vàng đến tạ ơn. "Bát cơm Phiếu Mẫu tạ ơn ngàn vàng". Cha con ta không chỉ một người giúp đỡ!"
    Liệm xong con, ông ngồi thừ chưa nghĩ ra gỗ để đóng áo quan?
    Cung gợi ý:
    - Cha ạ. Có thể tháo ván cánh cửa đóng áo cho em vậy.
    - ừ. Khiêm cũng ưng ý - Phải đó cha ạ.
    Ông cử Sắc lưỡng lự:
    - Cưa, đục không có. Cha cũng vụng công việc này nữa.
    - Thưa cha - Cung lễ phép - chú phó Tràng hiện đi Nam Kỳ làm từ đường cho họ bà Từ Dũ, chú còn gửi lại nhà ta một số đồ nghề của chú, cha ạ - Mà. thưa cha, con, anh cả đều đục đẽo tàm tạm, cha ạ.
    Ba cha con ông cử Sắc hí hoáy trong đêm, tháo cánh cửa, đóng một cái quan tài nhỏ, gần sáng mới xong.
    Ông cử lấy chai rượu, rót đầy chén uống. Ông uống hai ngụm, còn lại ông tẩm hai bàn tay. Ông bế bé Nhuận như bế nó lúc còn ngủ đặt vào nôi. Ông để rất êm. Mắt ông ngập lệ, gọi:
    - Các con. nhìn mặt. em. để cha đậy n.ắp!
    Cung nhìn mặt em lần cuối, đi ra sân xem trời:

    Cha ơi, trời sáng rồi! Sửa soạn để lúc có súng lệnh mở cửa thành thì đưa em con đi, cha ạ.

    Thầy Nguyễn Sinh Sắc vác quan tài lên vai bước nặng nề. Khiêm vác thuổng, cầm bó nhang đang cháy nghi ngút đi lên trước cha. Cung vác cuốc đi sau. Cung cúi xuống dặn con mèo ngồi buồn bã bên cửa: "Mèo ở nhà ngoan nhá. Tao đưa em Nhuận đến với mẹ tao rồi tao về.
    Sương mù! Gió se mây mỗi lúc một ùn ùn đến. Ba cha con thầy Sắc đắp những lát đất cuối cùng lên mộ. Ngôi mộ bé Nguyễn Sinh Nhuận nằm kề mộ mẹ. Ông Sắc vẫn không quên đốt hương trầm tưởng niệm người vợ hiền. Khói hương toả ấm trên hai ngôi mộ.

    Ông nói thầm thầm:
    - Mẹ con em yên nghỉ. Anh đưa hai con trở về quê, trăm sự lại nhờ mẹ của chúng ta

    Khiêm và Cung cùng cầm chặt hai bàn tay cha. Tiếng Khiêm buồn buồn:
    - Cha ơi! Trời mưa càng nặng hột. Gió lạnh lắm.
    Cung nói tiếp lời anh.
    - Mời cha về kẻo rét lắm ạ.
    Thầy Nguyễn Sinh Sắc lê từng bước giữa hai con, ngoảnh nhìn mộ vợ. Ông nói giữa mênh mông mưa:
    ". Gia. bần. vô. hiền. thê, quốc. loạn. vô. lương. tướng"
    (Trích từ Búp sen vàng Sđd tr 291 - 296)


    "Chị em ngày đoàn tụ"
    8a/. Bà Thanh đi Hà Nội

    Nghe tin Chính phủ Cách mạng lập ra ở Hà nội và vị chủ tịch là Hồ Chí Minh, bà Thanh quyết định đI Hà nội xem có phảI là em mình không. Bà không báo cho ai, lẳng lặng xuống chợ Vinh mua hai con vịt bầu, bỏ vào lồng rồi vào ga mua vé tầu hạng nhất .

    Lúc lên tầu vào số ghế của mình, hành khách nhìn bà chằm chằm tỏ vẻ khó chịu. Nhân viên coi toa đến đuổi bà về toa đen.

    Tầu đến ga Quán Hành thì có một ô tô đuổi kịp tầu. Một cán bộ đường sắt lên tầu tìm đến toa đen bà đang ngồi bày tỏ lời xin lỗi:
    "ủy ban Nghệ An được tin cụ ra thủ đô đã chỉ thị ga Vinh cử người giúp đỡ. Tuy nhiên không tìm được cụ. Cháu là Nguyễn Thiệu đi ô tô đuổi theo tầu tìm cụ với một lời dặn: Cụ già có xách lồng đựng hai con vịt bầu . "
    Sau này đ/c Nguyễn Thiệu mà người cha có thời gian là học trò thầy Nguyễn Sinh Sắc kể lại:
    "Lúc lên tàu tìm được cụ ngồi chen chúc ở toa đen, tôi rất ái ngại; ái ngại và băn khoăn về cả bộ đồ cụ mặc, cái nón lá cụ đội quá tồi tàn.
    "Tôi nằn nì mãi, cụ mới chịu trở lại toa hạng nhất. Cái lồng vịt của cụ, chúng tôi đưa xuống toa ăn uống của nhân viên trên tàu. Khi cụ đã ngồi ấm chỗ, cụ chuyện trò với tôi đã thân mật, tôi mới nói ra điều mình băn khoăn".
    - Thưa cụ!
    Cụ ngắt lời ngay:
    - Thôi. Cháu gọi bằng O cho gần gũi. Gọi bằng cụ xa cách quá cháu ạ.
    Tôi cảm thấy lòng mình nhẹ hẳn và nói một cách chân thành:
    - O ra thủ đô thăm Bác Hồ, Chủ tịch của nước Việt Nam độc lập mà O bận đồ mộc mạc quá, cháu không đành lòng.
    Cụ Thanh cười, giọng xuề xoà:

    ồ! Cháu xấu hổ thay cho O về sự ăn mặc quê mùa à? Cháu ngẫm coi, O ra Hà Nội thăm em trai của mình chứ đâu phải đi thăm ông Chủ tịch nước? Vả lại, nước mình mới giành được độc lập, dân còn đói khổ mà ông Chủ tịch nước lại khinh người mặc đồ rách rưới thì ông Chủ tịch ấy là của ai vậy? Huống chi O là người chị ruột của ông Chủ tịch hả cháu?
    Cụ nói như phân trần:
    "Nói thật tình với cháu, O không đến nỗi thiếu bộ quần áo tươm tất, cái nón lành lặn để mặc đi ra ngoài thiên hạ. Chị em O xa cách nhau đã quá lâu. Cậu Thành đã mấy chục năm bôn ba khắp bể á trời Âu, ăn cơm tây cơm tàu nay trở về giúp dân giành lại được giang sơn gấm vóc. O chưa rõ cậu Thành còn giữ được nếp nhà không, còn giữ được cốt cách người Việt Nam không? O còn lo cậu ấy quên nhiều tiếng mẹ đẻ, nói như một chú Khách nói tiếng Việt thì thật đáng buồn!"

    Nh?ng điều cụ Thanh nói khiến tôi càng thấm thía những điều cha tôi thường nhắc nhở các con: "Cha rèn cặp các con kỹ lưỡng, nghiêm ngặt đó là bài học của thầy Nguyễn Sinh Sắc d?y. Thầy Sắc dạy con, dạy học trò cái cốt tuỷ là dạy làm người, thành nhân trước khi thành nghiệp".

    Đ/C Nguyễn Thiệu giọng đầy xúc động kể tiếp:
    ". Tàu về tới Hà Nội. Tôi đưa cụ Thanh ra tận đầu đường Trần Hưng Đạo bây giờ. Tôi năn nỉ để được thuê xe tay đưa cụ đến Bắc Bộ Phủ, nơi Bác Hồ làm việc, nhưng cụ một mực từ chối: "O đi bộ tới đó được, đường dài chẳng đáng là bao.
    O ®· tõng nÕm mïi cæ ®eo c¸i g«ng gç lim, hai tay ph¶i ®ì hai ®Çu g«ng, ch©n kh«ng cã mét m¶nh mo nang lãt mµ ph¶i lÕt tõ ngµy nµy qua ngµy kh¸c. NhiÒu khi O ®i kh«ng kÞp ®oµn tï, cßn bÞ bän cai, ®éi quÊt roi g©n bß báng da l­ng.

    Giê ®©y O ®i trªn ®­êng phè Hµ Néi, ®Çu ngÈng cao, ch©n réng b­íc… MiÖng cô nãi , ch©n cô ®i tho¨n tho¾t, c¸i lång vÞt l¾c l­ theo nhÞp b­íc bªn dßng ng­êi ®i diÔu hµnh, h« vang: "ViÖt Nam ®éc lËp mu«n n¨m!... N­íc ViÖt Nam d©n chñ céng hoµ mu«n n¨m!… Nam Bé lµ cña n­íc ViÖt Nam!.. Hå Chñ TÞch mu«n n¨m!…"
    8b. D?n B?c b? ph? (l?i b Thanh k? l?i)
    "O đến Bắc Bộ Phủ gặp lính gác cửa, O xin với chú lính cho vào gặp Cụ Hồ. Chú lính nhìn O đầy ngờ vực, soi mắt khắp từ chân đến đầu O, cho tới cái lồng vịt! Hình như những người lính gác Bắc Bộ Phủ đều là người Nùng, người Tày, người Mường? Họ nói tiếng Kinh không sõi, giọng lơ lớ.
    - Cụ là ai mà dám đến đây xin gặp Cụ Hồ?
    - Chú cứ vào thưa với Cụ Hồ là có người ở trong Nghệ An ra thăm.
    Mấy chú lính nói nhỏ với nhau: "Bà này hao hao giống Bác Hồ". Một chú lính nhẹ nhàng: "Cụ đứng dẹp sang bên này đợi, sẽ có người ra gặp". O cảm thấy phiền hà khó chịu, muốn quay về nhưng lòng mong mỏi được gặp em nên đành ráng đợi.

    O lấy miếng trầu trong âu đồng mang theo nhai đã dầm dập thì một người trạc gần bốn mươi tuổi, dáng đĩnh đạc đi tới gặp O. Ông ta nhìn O, rồi hỏi rất ân cần:
    - Thưa cụ! Có phải cụ. Nguyễn Thị Thanh?

    - Sao ông biết tên tôi?
    - Dạ, cháu đã được nghe Bác Hồ nhắc đến cụ và cụ Cả Khiêm ạ.
    O mừng thầm: "Cụ Hồ đúng là cậu Thành rồi". Ông ta mời O vào phòng khách. Cái lồng vịt của O được để vào một góc phòng. Mời O uống nước rồi ông ta mới tự giới thiệu.
    - Thưa cụ, cháu là bí thư, tức là người giúp việc của Bác Hồ. Tên cháu là Huỳnh, Vũ Đình Huỳnh.

    Ông Huỳnh dặn O ngồi nghỉ ngơi, đợi ông đi báo cáo với Cụ Hồ. Một lần nữa O lại cảm thấy phiền phức và sốt ruột.

    Lời kể của ông vũ đình huỳnh

    . Cụ Nguyễn Thị Thanh có nét giống Bác Hồ. Đặc biệt hai con mắt sáng, nhưng hơi buồn. Tôi đón cụ Thanh vào phòng khách của Phủ Chủ Tịch tại Bắc Bộ Phủ. Tôi lên tầng hai, Bác đang bàn bạc với anh Võ Nguyên Giáp, anh Hoàng Hữu Nam, anh Hoàng Minh Giám về việc bọn Lư Hán, Tiêu Văn đòi được gặp Hồ Chủ Tịch.
    Tôi đến bên bàn thưa với Bác: "Cô Thanh ở Nghệ An ra thăm Bác. Cháu đã đón cô vào phòng khách." Bác đặt cây bút chì đỏ xuống bàn, hai tay Người níu chặt lấy bàn, nhìn tôi.
    Tôi được gặp Bác từ Đại hội quốc dân Tân Trào cho đến lúc làm Bí thư của Bác, chưa lần nào thấy mắt của Người ngấn lệ rưng rưng như lần này. Các anh Võ Nguyên Giáp, Hoàng Hữu Nam, Hoàng Minh Giám đều hoà chung vào niềm xúc động bất ngờ của Bác. Chỉ giây lát, Bác điềm đạm dặn dò:
    Bốn chục năm! Bây giờ chị em mới có điều kiện gặp lại, tôi nhớ chị tôi. nhưng phải nén nhịn. Tôi gặp chi tôi tại đây ngay bây giờ e có nhiều điều bất lợi cho công việc chung.
    Chú Huỳnh xuống gặp chị tôi, chú nói cách nào đó để chị tôi thông cảm được tình thế ngặt nghèo này. Rồi chú đưa chị tôi về ở nhà chú Đặng. Gia đình chú Đặng với gia đình tôi vốn có tình thân thiết từ lâu ở Nghệ An. Chị tôi ở đó thân thuộc như ở nhà. Tôi sẽ về đó, chị em gặp nhau hàn huyên được nhiều.
    Tôi trở lại phòng khách, cụ Thanh nhìn vọng ra cửa có ý chờ đón Bác Hồ. Tôi định rót nước mời cụ rồi mới thưa chuyện nhưng cụ hỏi ngay.
    - Ông Hồ đi vắng à?
    Tôi lúng túng thưa:
    - Dạ, thưa cụ. Bác còn dở dang một công việc hệ trọng, Bác giao trọng trách cho cháu đưa cụ về nghỉ ngơi tại nhà gia đình ông giáo sư Đặng (tức Đặng Thai Mai). Bác sẽ về gặp cụ tại đó.
    Tôi chưa nói xong, cụ Thanh đứng phắt dậy, sải bước đến góc phòng, xách lồng vịt lên, nghiêm giọng.
    Tôi trở về Nghệ An đây.
    Ông lên nói với ông Hồ:
    Tôi không ngờ đứa em trai Nguyễn Tất Thành của tôi bốn chục năm về trước hiếu với cha mẹ, thảo hiền với chị với anh trong nhà, kính thầy yêu bạn. Vậy mà. Bây giờ là ông Chủ tịch nước - Cụ đay nghiến - Chủ tịch nước là vua chứ còn gì? Vậy là, em tôi đã thay đổi, đã "quan dân lễ cách" ngay cả với chị gái của mình. Hẹn gặp chị chỗ khác. Sợ gặp chị rách rưới ở nơi quyền cao chức trọng này xấu hổ cho em chăng?
    Đợi cụ nói cho đỡ phần giận dỗi, tôi đến bên cụ nói vừa đủ hai người nghe:

    Thưa cụ. Được tin cụ ra thăm. Bác mừng nước mắt nhoè cặp kính lão. Bác muốn chạy ngay xuống đây với cụ. Nhưng Bác đã phải níu chặt tay vào bàn để nén chịu nỗi nhớ nhung. Vì hiện giờ, chính quyền cách mạng còn trứng nước mà thù trong giặc ngoài như kiến cỏ, chúng đang truy tìm cho ra tung tích Hồ Chí Minh có đúng là Nguyễn i Quốc không? vì lẽ. Tôi đang nói dở dang, cụ Thanh để lồng vịt xuống, đặt bàn tay vào cánh tay tôi, mắt cụ ánh ngời ngấn lệ.

    Tôi hiểu ra rồi. Vì nghĩa lớn. đã vì nghĩa lớn mà bấy lâu xa cách, gác lại tình riêng. Chị em tôi. Thôi ông đưa tôi về nhà ông Đặng. Thân sinh ông Đặng và thân sinh của tôi vốn là bạn đèn sách, cùng hàng Phó bảng triều Thành Thái mà.
    8c. ở nhà giáo sư Đặng Thai Mai
    ". O đến nhà cậu giáo Đặng. Cậu mợ ấy mừng đón O như đón một người chị gái lâu ngày gặp nhau. Vậy mà O không ăn ngủ nổi. Cả đến ngồi cũng thấp tha thấp thỏm không yên chỗ. Mợ giáo Đặng hỏi O:
    Người Bắc có tục lệ kiêng ăn thịt vịt đầu tháng, sợ xúi quẩy. Cho nên không ai đem vịt đi biếu lễ tết. Giá chị đem một đôi gà làm quà biếu Bác Hồ hợp với phong tục ngoài Bắc chị ạ.
    O không nỡ giận mợ giáo Đặng, nhưng phải nói vì mợ ấy cũng là con nhà có tiếng gia phong: "Mợ nói vậy là trái đạo nhà ta rồi đó. Tôi đi thăm em trai đã lâu ngày chưa gặp lại, tôi có thứ gì thì đem phần cho em thứ đó. Tôi đâu có biện lễ tết người thượng cấp?".
    Mợ giáo Đặng biết đã lỡ lời, ngượng ngập nói với O.
    - Em trót buột miệng nói điều không phải, chị thứ lỗi cho em

    Nhân thể, mợ giáo Đặng hỏi O làm những món gì để đãi cơm cậu Thành. O nhờ mợ ấy làm theo chủ định của mình.

    Tôi đem hai con vịt từ quê nhà ra đây là có tích của nó. Nhờ mợ làm cho chị món vịt luộc, chấm muối gừng, vì cậu Thành sợ mùi tỏi sống. Còn nước luộc, mợ cho gia vị làm nước dùng. Chỉ từng ấy, đừng làm thêm món gì nữa.


    Hai con vịt bầu tới ba cân có thể chế biến nhiều món ăn vừa ngon vừa sang. Chỉ một món luộc phí quá chị ạ.

    Những bữa khác mợ tha hồ trổ tài nấu nướng đãi khách. Còn bữa này mợ làm theo ý tôi đã.

    Vào buổi non trưa có tiếng xe hơi ngoài cửa. Cậu giáo Đặng vẻ mừng rỡ đi nhanh từ phòng ngoài vào trong nói với O:

    Chị ơi. Bác về. Bác về rồi!
    O vui đến nghẹn thở, nhưng cái giận dỗi ở đâu tận trong bụng trào lên. O gắt với cậu giáo Đặng:

    Cậu đang nói với ai vậy?

    Tôi là chị cậu Thành kia mà. Cậu Thành đi làm cách mạng giúp dân cứu nước chứ đâu phải làm cố đạo để bố mẹ, ông bà cũng phải gọi bằng "cha", xưng "con". Bác Hồ là Bác với thanh niên, nhi đồng.
    Cậu giáo Đặng im lặng đi ra, O nghe tiếng cậu giáo Đặng nói vẻ hồi hộp từ phía ngoài. Tiếng chân đang đi gần với nơi O ngồi. Tự nhiên như có ai xoay người, O ngoảnh mặt vào tường. O lắng rõ tiếng chân của cậu Thành đang bước, nhưng cái dỗi tỳ kéo O không quay ra với em mà ngoảnh mặt vào tường.
    Cậu Thành ngồi khẽ khàng xuống mép giường, sát người O, giọng nói vẫn trong, vẫn còn hơi hướng giọng Nghệ Tĩnh. Hai bàn tay cậu Thành ấp lên hai vai O: "Chị ơi! Chị nỡ nào dỗi với em!". O khóc oà lên! O quay ra ôm lấy em. Nhìn em Thành đã hoá một ông cụ tóc muối tiêu râu thưa dài loà xoà! O xót xa vô cùng.
    Cậu Thành cũng khóc, nói những gì O không nghe rõ. Bao điều dự định để than thở với em bỗng bay biến mất, chỉ hiện ra cái hình ảnh trên sân nhà bà ngoại ở làng Chùa, năm Tân Sửu (1901). O ngồi thái rau lợn, nhìn ra ngõ thấy em Thành còn gọi là bé Cung theo cha mẹ vô Huế từ năm năm trước nay trở về, O mừng reo lên: "Mẹ về. Mẹ về. Bà ơi. Cha mẹ cháu đã về.".
    Nhưng em Thành chạy sà vào lòng O khóc to: "Chị ơi, mẹ đã chết trong Huế. Cha đang đi về kia.". Cái hình ảnh ấy bám riết lấy O mãi tới lúc cậu Thành đứng lên dìu tay O ra khỏi phòng khách. Hai chị em xa nhau đã hàng vạn ngày mà gặp nhau hàn huyên không được một giờ. Bởi cậu Thành đâu có nhiều thì giờ.
    8d. Hai ch? em nh?c l?i k? ni?m th?i tho ?u
    trong bữa cơm ngày đoàn tụ

    "Mợ giáo Đặng đã làm xong cơm. Hai chị em O, hai vợ chồng cậu giáo Đặng ngồi vừa một mâm. Nhìn vào mâm thấy đầy thịt vịt luộc, cậu Thành đùa vui:
    - Chà! Vợ chồng chú Đặng đãi chị em tôi món thịt vịt đầy lút mắt thế này rồi tha hồ được nghe "tin vịt".
    Cậu giáo Đặng cười không nói gì. Mợ giáo hồ hởi nói:
    - Thưa Bác.
    Cậu Thành đỡ lời ngay.
    - Gọi tôi là anh thôi. Người nhà với nhau mà gọi tôi bằng bác. Gọi O Thanh của chúng ta bằng chị khác nào cầm đũa lệch gắp cơm.
    Cậu Thành nói vậy rồi, mợ giáo Đặng vẫn gọi Bác. Mợ ấy nói luôn món thịt vịt là của O mang từ làng Sen ra. Cậu Thành đặt đôi đũa xuống mâm, đứng dậy, hai cánh tay khép vào phía trước người mình, nói với O:

    Hồi còn bé em thích món thịt vịt luộc hơn các thức ăn khác. Em cũng hay vòi vĩnh bà ngoại, vòi vĩnh mẹ món thịt vịt mỗi khi nhà có cỗ bàn. Em xa quê từ ngày tóc còn để chỏm, nay hai chị em tóc bạc mới được gặp lại. Chị vẫn còn nhớ sở thích khi còn trẻ nít của em, chẳng quản tuổi già sức yếu đem vịt từ quê nhà ra tận đây vì em.

    O mừng thoả dạ như lúc khát được uống nước giếng thơi vậy. O nói ra điều canh cánh bên lòng với cậu Thành.
    Chị cứ lo ngay ngáy về nỗi cậu đi khắp hoàn cầu sẽ quên mất những thú quê vị quán, nơi mình cắt rốn chôn nhau. Giờ gặp cậu chị yên lòng lắm. Cậu có còn nhớ cái tích chuyện hai anh em với cái chân vịt luộc không?
    Cậu Thành cười:
    Em làm sao quên được chuyện đó. Em vẫn còn nhớ cái khoản "nợ" bà ngoại cho em chịu bảy roi chị ạ.
    Vợ chồng cậu giáo Đặng cùng cười vui với hai chị em O, nhưng không rõ đầu đuôi câu chuyện. Trong bữa ăn O đã kể lại cho cậu mợ ấy nghe.
    ". Nhà ngoại có giỗ. Năm đó cỗ bàn bày biện khá to. Lễ xong, đang chặt thịt vịt, thịt gà bày lên đĩa. Bà ngoại cho cậu Khiêm, cậu Cung mỗi cháu một cái chân vịt luộc. Cậu Khiêm chìa cái chân vịt phần mình ra trêu em:
    Chân giò anh to hơn.

    Cậu Cung tưởng thật, bỏ cái chân vịt phần mình xuống, giành cái của anh. Cả hai anh em không chịu nhường nhau, kéo co mãi. Rốt cuộc, cậu Khiêm thả tay ra bất ngờ, cậu Cung ngã sóng soài, tay quờ phải chồng đĩa cổ của bà vỡ bảy chiếc. Cả hai anh em lúc đó xanh tái mặt, ngồi như tượng đá. Bà ngoại l
     
    Gửi ý kiến